Với việc Bắc Kinh kiểm soát đầu nguồn những con sông quan trọng nhất châu Á, nguồn nước ngày càng trở thành sự chia rẽ mang tính chính trị trong mối quan hệ của Trung Quốc với những nước láng giềng như Ấn Độ, Nga, Kazakhstan, Nepal và các quốc gia vùng Mê Công.
Xuất bản 18/10/2011, Thời báo Băng-cốc
Thảo luận quốc tế về sự vươn lên của Trung Quốc hiện nay đang tập trung vào vấn đề trao đổi ngày càng gia tăng, tham vọng về hải phận ngày càng lớn, và năng lực nhằm thúc đẩy sức mạnh quân sự ngày càng được mở rộng. Tuy nhiên, một vấn đề quan trọng thường không được chú ý là: sự vươn lên của Trung Quốc thành một quốc gia kiểm soát thủy điện mà không có sự cân bằng lịch sử - hiện đại.
Vào tháng Ba vừa rồi, mực nước sông Mê Công giảm xuống chỉ còn 33 cm, thấp nhất trong vòng 50 năm. Người dân sống tại hạ nguồn Thái Lan, Lào và Campuchia đổ lỗi mực nước thấp là do những con đập mới được xây dựng tại Trung Quốc.
Chưa có quốc gia nào từng thành công trong việc kiểm soát những quốc gia ven sông dễ dàng trên một lục địa bằng việc kiểm soát đầu nguồn những con sông quốc tế và điều chỉnh dòng chảy xuyên quốc gia như vậy. Trung Quốc, quốc gia xây đập lớn nhất thế giới – chiếm hơn một nửa trong số gần 50,000 con đập lớn trên hành tinh – đang nhanh chóng chiếm lấy ưu thế đối với những nước láng giềng bằng việc triển khai các dự án thủy điện lớn trên các sông xuyên quốc gia.
Bản đồ nguồn nước của châu Á đã thay đổi đáng kể từ sau thắng lợi của Đảng cộng sản năm 1949 tại Trung Quốc. Hầu hết các con sông quốc tế quan trọng của châu Á bắt nguồn từ các lãnh thổ mà sau đó bị sáp nhập vào Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa. Cao nguyên Tây Tạng là một ví dụ. Đây là khu vực nước ngọt lớn nhất thế giới và là khởi nguồn của các con sông lớn nhất châu Á, bao gồm cả các con sông là mạch sống của Trung Hoa đại lục, Nam Á và Đông Nam Á. Các vùng lãnh thổ thuộc Trung Quốc còn là đầu nguồn của các con sông như Irtysh, Illy và Amur, chảy tới Nga và Trung Á.
Điều này khiến trung Quốc là khởi nguồn của các dòng chảy xuyê n biên giới tới nhiều nước nhất thế giới. Tuy nhiên Trung Quốc lại từ chối chia sẻ nguồn nước hay hợp tác về mặt thể chế với những nước hạ nguồn. Trong khi những người láng giềng Đông Nam Á và Nam Á bị ràng buộc bởi những công ước về nguồn nước mà họ đàm phán với nhau, Trung Quốc không hề có một hiệp ước về nước với bất kì một quốc gia ven sông nào khác. Dù trên thực tế sở hữu nguồn nước và sử dụng nó, Trung Quốc là một đối tác tham gia đàm phán nhưng lại không phải là một thành viên Ủy hội Sông Mê Công, và không có ý định tuân thủ các quy định của cộng đồng lưu vực sông Mê Công hay nhận bất kì trách nhiệm pháp lý nào.
Nghiêm trọng hơn, trong khi ca ngợi chủ nghĩa đa phương ở cấp độ quốc tế, Trung Quốc lại tỏ ra lạnh lùng trong việc hợp tác đa phương với những quốc gia trong lưu vực sông. Ví dụ, những quốc gia hạ lưu vực sông Mê Công nhìn nhận chiến lược của Trung Quốc là một nỗ lực “chia rẽ và xâm chiếm”. Mặc dù Trung Quốc công khai ủng hộ các sáng kiến song phương hơn là các thể chế đa phương trong việc giải quyết các vấn đề về nước, nước này không có bất kì động thái gì bảy tỏ nhiệt tình thực sự đối với hoạt động song phương có ý nghĩa. Điều này dẫn tới việc nước trở thành nguyên nhân cho sự chia rẽ chính trị mới trong mối quan hệ của quốc gia này với các láng giềng như Ấn Độ, Nga, Kazakhstan và Nepal.
Trung Quốc chuyển hướng trọng tâm từ việc chối từ chia sẻ nguồn nước, hay tham gia vào hợp tác thể chế sang quản lý bền vững tài nguyên nước chung, bằng việc phô trương ý định rằng nước này đã nhất trí chia sẻ số liệu thống kê về dòng chảy với những nước ven sông. Đây không phải là thống nhất hợp tác về tài nguyên chung, mà là hiệp ước thương mại nhằm bán các dữ liệu thủy văn mà các quốc gia thượng nguồn cung cấp miễn phí cho những nước hạ nguồn.
Thực tế là, với việc chuyển ồ ạt từ xây dựng đập trên các sông nội địa thành xây đập trên các sông quốc tế, Trung Quốc hiện tại đã rơi vào các cuộc tranh chấp nguồn nước với hầu hết các quốc gia cùng chung dòng sông. Các cuộc tranh chấp này có vẻ như ngày càng tồi tệ, khi trọng tâm mới của nước này là xây dựng những con đập khổng lồ, với biểu tượng rõ ràng là thêm một con đập gần đây nhất trên sông Mê Công – đập Tiểu Loan có công suất 4.200 MW, với chiều cao vượt cả tháp Eiffel, và một con đập công suất 38.000 MW đang được lên kế hoạch xây dựng trên sông Brahmaputra tại Metog, gần biên giới tranh chấp với Ấn Độ. Đập Metog sẽ lớn gấp đôi đập Tam Hiệp có công suất 18.300 MW, hiện đang giữ quán quân trong số các đập lớn, và khi đập Tam Hiệp được xây dựng, 1,7 triệu người Trung Quốc đã bị tái định cư.
Thêm vào đó, Trung Quốc mới quyết định thêm một địa điểm xây đập khác trên sông Brahmaputra tại Daduqia, giống như Metog, đập này khai thác lực của nước chảy từ độ cao gần 3.000m khi con sông này rẽ ngoặt xuống phía Nam từ rặng Himalaya vào địa phận Ấn Độ và hình thành nên hẻm núi dài nhất và dốc nhất thế giới. Hẻm Brahmaputra – sâu gấp hai lần hẻm Grand Canyon ở Hoa Kỳ, là nguồn dự trữ nước chưa được sử dụng nhiều nhất châu Á.
Những nước có nhiều khả năng chịu hậu quả của viêc chuyển dòng chảy quy mô lớn là những quốc gia tận cùng hạ nguồn của các con sông như Brahmaputra và Mê Công – Bangladesh, tương lai của nước này bị đe dọa bởi biến đổi khí hậu và môi trường, và Việt Nam, vựa lúa của châu Á. Sự chiếm lĩnh nguồn nước từ sông Illy của Trung Quốc đe dọa biến hồ Balkhash của Kazakhstan thành một biển Aral nữa, biển này đã giảm mực nước xuống còn một nửa ban đầu.
Thêm nữa, Trung Quốc đã lập kế hoạch “Con đường lớn phía Tây”, hợp phần thứ ba được đề xuất của dự án Chuyền dòng Bắc-Nam – chương trình chuyển dòng liên sông và liên lưu vực tham vọng nhất từng có – với hai hợp phần trước liên quan tới các dòng sông nội địa ở vùng trung tâm của dân tộc Hán tại Trung Quốc, dự kiến sẽ hoàn thành trong vòng ba năm.
Con đường lớn phía Tây, với trung tâm ở Cao nguyên Tây Tạng, được thiết kế nhằm chuyển dòng nước, bao gồm nước từ các sông quốc tế, tới Hoàng Hà, con sông chính ở Bắc Trung Quốc đang gặp vấn nạn về nước, con sông này cũng bắt nguồn từ Tây Tạng.
Với sự thống trị thị trường thiết bị thủy điện toàn cầu hiện nay, Trung Quốc cũng là quốc gia tham gia xây đập lớn nhất ở nước ngoài. Từ vùng Kashmir của Pakistan tới vùng Kachin đang gặp nhiều vấn đề của Burma và vùng Shan, Trung Quốc đã mở rộng hoạt động xây dựng đập tới những vùng đang tranh chấp hay đang bị quân nổi dậy chia cắt, bất chấp phản ứng dữ dội ở địa phương.
Lấy ví dụ, các đơn vị của Quân đội Giải phóng Nhân dân cũng tham gia vào xây dựng đập và các dự án chiến lược khác trong vùng chủ yếu là người Shia của Gilgit-Baltistan tại vùng Kashmir mà Pakistan đang làm chủ. Và hoạt động xây đập của Trung Quốc tại lãnh thổ Burma nhằm sản xuất điện xuất khẩu tới các tỉnh của Trung Quốc cũng góp phần vào các cuộc đấu tranh đẫm máu mới tái diễn gần đây, kết thúc 17 năm ngừng bắn giữa Quân đội Độc lập Kachin và chính phủ Burma.
Cùng với các cuộc tranh chấp lãnh thổ và hải phận với Ấn Độ, Việt Nam, Nhật Bản và những nước khác, Trung Quốc đang phá vỡ tình trạng hiện tại của các dòng chảy quốc tế. Do đó, thuyết phục nước này ngừng lại nỗ lực xa hơn trong việc chiếm lĩnh đơn phương nguồn nước chung đã trở thành điểm mấu chốt đối với hòa bình và ổn định của châu Á. Nếu không làm được điều này, Trung Quốc sẽ trở thành chủ nhân nguồn nước của cả châu Á, và chiếm được ưu thế lớn đối với hoạt động của những người láng giềng.
Brahma Chellaney là giáo sư Chiến lược tại Trung tâm Nghiên cứu Chính sách và là tác giả của “Nước: Chiến trường mới của châu Á”. Dự án Nghiệp đoàn 2011.
Nguồn: http://www.bangkokpost.com/opinion/opinion/261849/hydro-control-turning-china-into-dreaded-hydra