Video
Mạng lưới Sông ngòi VN
Khu bảo tồn Phú Mỹ và Dự án Đồng cỏ bàng Kiên Giang
Gửi cho bạn bè< Gửi cho bạn bè In trang này In trang này
Chiếu làm từ cỏ bàng
(Hoàng Tuyên - Báo Sài Gòn Tiếp thị) Trong khuôn khổ Đối thoại "Thách thức của việc phát triển đập thủy điện dòng chính trên sông Mê Công đối với sinh thái của Đồng bằng Sông Cửu Long, Mạng lưới Sông ngòi Việt Nam (VRN) phối hợp với Trung tâm Nghiên cứu Thực nghiệm Đa dạng sinh học Hòa An (thuộc ĐH Cần Thơ) tổ chức chuyến đi thực tế tới Khu bảo tồn Phú Mỹ, xã Phú Mỹ, huyện Giang Thành, tỉnh Kiên Giang vào ngày 27/7/2011. Bài viết dưới đây của Tiến sĩ Dương Văn Ni - Giám đốc Trung Tâm Hòa An trình bày một cái nhìn tổng quát về sự hình thành Khu bảo tồn và Dự án Khai thác bền vững đồng cỏ bàng kết hợp bảo tồn nghề thủ công địa phương”.

“Khu bảo tồn Loài và Sinh cảnh Phú Mỹ” tại xã Phú Mỹ, huyện Giang Thành, tỉnh Kiên Giang

 

TỔNG QUÁT CHUNG

Mở đầu

Dự án “Khai thác bền vững đồng cỏ bàng kết hợp bảo tồn nghề thủ công địa phương”, trên diện tích 2.800 ha, tại xã Phú Mỹ, huyện Kiên Lương, tỉnh Kiên Giang được Ủy Ban Nhân Dân tỉnh Kiên Giang cho phép thực hiện tại quyết định số 2647/QĐ-UB ngày 19 tháng 10 năm 2004. Mục tiêu của dự án là “kết hợp bảo vệ hệ sinh thái đồng cỏ bàng tự nhiên duy nhất còn sót lại của ĐBSCL, đồng thời với việc gìn giữ làng nghề đan lát truyền thống của người dân tộc Khơ-me.

Trong thời gian qua, dự án đã tiến hành những hoạt động cụ thể như sau:

            - Về nghiên cứu, khảo sát: Dự án đã tiến hành các hoạt động khảo sát đất đai, đánh giá hiện trạng đa dạng sinh học, phân khu chức năng để bảo vệ và khai thác, phục hồi tài nguyên cỏ bàng, theo dõi và quan trắc đa dạng sinh học hệ sinh thái đồng cỏ ngập theo mùa trong khu vực dự án. Dự án cũng đã phối hợp với các trường đại học tiến hành nhiều nghiên cứu về quần thể sếu đầu đỏ và sinh cảnh sống của chúng trong khu vực Hà Tiên – Kiên Lương.

            - Về xây dựng cơ bản: Dự án đã xây dựng 120m2 văn phòng, 1,000m2 nhà xưởng (sản xuất) và 1,500m2 sân phơi. Trang bị một máy ép cỏ bàng (thay cho việc dã bàng bằng thủ công); 36 khung dệt chiếu và 22 máy may công nghiệp.

            - Về mặt kinh tế-xã hội:

            + Dự án đã tổ chức hơn 20 đợt tập huấn cho người dân về cách thức thu hoạch hợp lý cỏ bàng, xử lý nguyên liệu thô, đan lát và thiết kế mẫu mã. Các hoạt động nầy đã thu hút hơn 500 lượt người tham gia học tập tại xã Phú Mỹ. Ngoài ra, dự án còn mở rộng tập huấn cho những nơi khác như: Dự án Làng cầu vòng tại phường Vĩnh Quang Tp. Rạch Giá; Tổ dệt chiếu thuộc ấp Rạch Dứa xã Phú Mỹ, Giang Thành, Kiên Giang; Tổ phụ nữ chùa Giang Thành huyện Giang Thành tỉnh Kiên Giang.

            + Dự án cũng đã thực hiện hai lần đánh giá hiện trạng kinh tế của 300 hộ dân sống xung quanh, lần đầu tiên vào năm 2004 trước khi bắt đầu dự án và lần thứ hai vào năm 2006 để đánh giá kết quả của các hoạt động dự án.

            Toàn bộ các hoạt động trên của dự án do Hội Sếu quốc tế tài trợ 300.000 USD; Sở Khoa học Công Nghệ tỉnh Kiên Giang tài trợ 500 triệu đồng.

            Bên cạnh các hoạt động chính thức, dự án cũng đã vận động các tổ chức từ thiện, làm công tác phát triển cộng đồng trong khu vực Phú Mỹ như kết hợp với Tổ chức Catalyst Foundation, tổ từ thiện của Bệnh viện Triều An (Tp.HCM) đến khám sức khỏe và phát thuốc cho bà con, trong đó có phát quà với tổng số tiền ước tính khoảng 40 triệu đồng. 

            Những hoạt động trên đây đã góp phần quan trọng cho sự thành công bước đầu của dự án, bao gồm:

Trước tiên là thu nhập của người dân, dự án đã đào tạo nghề cho hơn 500 công nhân, trong đó những công nhân đã thành thạo kỹ thuật như đan giỏ xách, nón, may các sản phẩm thủ công mỹ nghệ cao cấp đạt tiêu chuẩn xuất khẩu. Thu nhập hiện nay của nhóm công nhân lành nghề nầy từ 1,200,000-3,400,000 đồng/tháng, so với trước khi có dự án là từ 200,000-300,000 đồng/tháng (tăng ít nhất là 6 lần và nhiều nhất là 11 lần). Tiếp theo là những người dân sống trong vùng dự án, nhờ bán nguyên liệu cỏ bàng, cung cấp các sản phẩm dệt tại nhà như đệm thô, chiếu thô cũng có thu nhập tăng lên từ 1,000,000- 1,200,000 đồng/tháng.

Tiếp theo là dự án đã bảo vệ được 1,200 ha đồng cỏ và rừng tràm tự nhiên, phục hồi 60 ha và trồng mới 20 ha cỏ bàng. Dự án cũng đã giữ cho sinh thái của 1,200 ha ổn định, điều nầy được chứng minh bằng số lượng Sếu về đây mỗi năm, năm sau cao hơn năm trước, năm 2003 chỉ có 6 con và đến năm 2010 là trên 200 con.

Thành công có ý nghĩa lớn nhất là người dân tộc Khơ-me ở đây đã được dự án huấn luyện và tổ chức thành tổ, nhóm; có tay nghề đan lát cao hơn, có tinh thần kỹ luật tốt hơn; họ tiếp thu các chủ trương hay chính sách của nhà nước mau lẹ hơn; họ đã thấy được sự quan tâm chăm sóc của các cấp chính quyền từ cấp ấp, xã, huyện đến tỉnh cùng lo cho thu nhập hàng ngày, sức khỏe của các thành viên trong gia đình, và tương lai mai sau của con cái. Điều nầy phù hợp với chính sách của Đảng và nhà nước đối với người dân tộc và cũng là mục tiêu xây dựng nông thôn mới hiện nay.

            Những thành quả trên đây đã giúp cho dự án có được tiếng vang rất đáng kể trên thế giới:

·         Năm 2007 Dự án được cơ quan UN-HABITAT của Liên Hiệp Quốc trao giải thưởng "Dubai International Award for Best Practices in Improving Living Environment" tại Du Bai, Tiểu Vương Quốc Ả Rập, trị giá 30.000 USD, đồng thời UBND tỉnh tặng bằng khen cho tập thể Ban quản lý dự án;

·         Tháng 5/2008 tại Hội nghị toàn thể lần thứ 9 của công ước Đa dạng sinh học (COP9-CBD) tổ chức tại thành phố Bonn, CHLB Đức, Dự án đã vinh dự nhận giải thưởng EQUATOR PRIZE của cơ quan UNDP Liên Hiệp Quốc;

·         Tháng 11/2009 Ngân Hàng Thế Giới đã chọn Dự án Phú Mỹ là một trong 3 dự án bảo tồn thiên nhiên kết hợp phát triển cộng đồng xuất sắc nhất thế giới và đã mời đại diện dự án đến trình bày tại trụ sở Ngân Hàng Thế Giới ở Washington DC, Hoa Kỳ;

·         Tháng 2/2010, Dự án được cơ quan UNDP của Liên Hiệp Quốc mời đại diện cho tất cả các dự án bảo tồn thiên nhiên của khu vực xích đạo trên thế giới đến tham dự và trình bày tại buổi lễ phát động Năm Quốc Tế Đa Dạng Sinh Học 2010 tổ chức tại Bảo tàng thiên nhiên New York. Cũng trong dịp này, một họp báo quốc tế đã được tổ chức tại trụ sở Liên Hiệp Quốc tại New York để giới thiệu về Dự án;

Sở dĩ các tổ chức trên đây chỉ chọn dự án nầy để trao giải vì dự án có những điểm đặc biệt sau đây:

·         Kinh phí đầu tư không cao;

·         Cùng lúc kết hợp được việc phát triển kinh tế của người dân với việc bảo tồn thiên nhiên;

·         Gìn giữ được bản sắc văn hóa độc đáo của người dân địa phương;

·         Nâng cao năng lực cho người dân tộc ít người đang sống ở vùng sâu vùng xa, để thích nghi với sự cạnh tranh gay gắt của toàn cầu hóa hiện nay.

            Nhờ hệ thống thông tin toàn cầu và internet nên địa danh Phú Mỹ, Giang Thành (Kiên Lương trước đây) và tỉnh Kiên Giang đã được nhiều quốc gia trên thế giới biết đến. Hiện nay, đang có rất nhiều đoàn khách gồm các nhà khoa học, các doanh nghiệp có quan tâm đến môi trường và sinh viên của nhiều trường đại học trên thế giới muốn đến Phú Mỹ để xem Sếu đầu đỏ và tham quan làng nghề truyền thống của người Khơ-me. Đây sẽ là tiền đề thuận lợi cho các chương trình phát triển du lịch và tiếp cận với nhà đầu tư của tỉnh Kiên Giang nói riêng và của toàn vùng ĐBSCL.

            Tuy nhiên, dự án cũng đang gặp phải những khó khăn như chưa có giấy chủ quyền đất nên thường xuyên bị những người dân nơi khác đến xâm canh; chưa có ban quản lý thường trực để giải quyết các vấn đề liên quan đến quyền lợi cán bộ công nhân hay giải quyết việc người dân ở nơi khác đến khai thác cỏ bàng; chưa có qui chế hoạt động cũng như cách phối hợp với chính quyền và các cơ quan  chức năng khác tại địa phương; và nhất là chưa có bộ máy tổ chức Đảng, Công đoàn, Đoàn thanh niên nên rất chậm chạp trong việc triển khai các chủ trương hay chính sách xuống người dân, cũng như việc qui hoạch, đào tạo đội ngũ cán bộ thừa kế trong tương lai.

            Từ những điều kiện thực tiễn hiện nay và để phát triển bền vững trong tương lai, dự án Phú Mỹ đã kiến nghị với UBND tỉnh Kiên Giang xin được nâng cấp lên thành khu bảo tồn thiên nhiên Loài & Sinh cảnh (gọi tắt là Khu bảo tồn thiên nhiên - KBTTN) trực thuộc tỉnh.

            Ngày 17/05/2010 UBND Tỉnh Kiên Giang đã có công văn số 1380/VP-KTCN đồng ý cho việc lập dự án xây dựng Khu bảo tồn Loài – Sinh cảnh thiên nhiên Phú Mỹ.


QUI MÔ DIỆN TÍCH VÀ MỤC TIÊU CỦA KHU BẢO TỒN PHÚ MỸ

 

Mục tiêu của dự án:

Mục tiêu tổng quát: Xây dựng khu bảo tồn Loài – Sinh cảnh nhằm bảo tồn đồng cỏ bàng duy nhất còn lại ở đồng bằng sông Cửu Long và duy trì số lượng Sếu đầu đỏ về đây mỗi năm.

Mục tiêu cụ thể:

·         Xây dựng ban quản lý khu bảo tồn (KBT) đủ mạnh để thực hiện các chức năng, nhiệm vụ được phân công;

·         Trang bị cơ sở hạ tầng và phương tiện để ban quản lý KBT thực hiện các chức năng hành chính, tài chính, bảo tồn và phát triển kinh tế-xã hội-văn hóa của cộng đồng;

·         Xây dựng Kế hoạch quản lý và bảo tồn tài nguyên thiên nhiên cho KBT trong ngắn hạn và dài hạn nhằm thỏa mãn mục tiêu bảo tồn Loài-Sinh cảnh đã đề ra;

·         Đào tạo nguồn nhân lực cho KBT để thực hiện Kế hoạch quản lý và bảo tồn, bao gồm công tác quan trắc tài nguyên, theo dõi và đánh giá đa dạng sinh học (trong đó ưu tiên việc quản lý đồng cỏ bàng và theo dõi số lượng Sếu hàng năm), thực hiện các chương trình phát triển an sinh-xã hội nhằm mục tiêu xây dựng xã Nông Thôn Mới.

Tổng diện tích: 3.270 ha

Hiện nay Sếu đầu đỏ sử dụng 03 nơi: Khu dự án Phú Mỹ thuộc xã Phú Mỹ, huyện Giang Thành; khu Hàng Bùn thuộc phường Đông Hồ thị xã Hà Tiên và khu Lung Lớn xã Đồng Hòa, Huyện Kiên Lương (Hình 01). Trong đó Khu dự án Phú Mỹ là bãi ăn chính, khu Hàng Bùn và khu Lung Lớn chủ yếu là bãi ngủ.

Vì vậy, để có thể bảo đảm mục tiêu là bảo tồn loài, thì KBTTN Phú Mỹ trong tương lai cần bao gồm khu dự án Phú Mỹ (2.895ha, Khu-1); khu Hàng Bùn (120ha, Khu-2); và khu Lung Lớn (350ha, Khu-3).

Tại mỗi khu chức năng và nhiệm vụ bảo vệ có khác nhau, trong đó Khu-1 sẽ đóng vai trò trung tâm và sẽ được thiết kế và bảo vệ theo đúng chức năng của một khu bảo tồn Loài – Sinh cảnh thiên nhiên. Trong 2.895ha sẽ được chia ra 1.200ha được xem như là vùng lõi, tránh làm xáo trộn; và 1,695ha còn lại là vùng tập trung phát triển an sinh xã hội cho cộng đồng dân cư. Riêng Khu-2&3 là khu liên kết bảo tồn, chủ yếu là giúp để gìn giữ bãi ngủ nhằm duy trì số lượng Sếu về đây trong khoảng từ tháng 1-5 hàng năm.

            Kết hợp các khu này với nhau, sẽ tạo điều kiện để duy trì số lượng Sếu đầu đỏ và đồng thời xây dựng mô hình bảo tồn thiên nhiên kết hợp với gìn giữ bản sắc văn hóa địa phương. Khu bảo tồn thiên nhiên Phú Mỹ nếu được thành lập sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho việc vận động hỗ trợ tài chính từ nhiều nguồn khác nhau, cả trong nước lẫn ngoài nước, để có thể phát triển thêm hạ tầng cơ sở và đào tạo nguồn nhân lực cho công tác quản lý.




Hình 01 Vị trí các khu đề xuất được bảo tồn: Khu-1 Phú Mỹ, rộng 2,895ha, trong đó vùng lõi là 1,200ha, vùng đệm để phát triển an sinh xã hội là 1,695ha; Khu vệ tinh gồm có Khu-2 Hàng Bùn (120ha) và Khu-3 Lung Lớn (350ha), là nơi giữ ổn định trong khoảng tháng 1-5 mỗi năm.

Một số hình ảnh về chuyến đi:



Các cô gái người Khmer dệt chiếu từ cỏ bàng
 (Ảnh Hoàng Tuyên - Báo Sài Gòn Tiếp thị)


 Tiến sĩ Dương Văn Ni giải thích về bãi đáp của sếu đầu đỏ (Ảnh: Hoàng Tuyên - Báo Sài Gòn Tiếp thị)
Một số sản phẩm xuất khẩu từ cỏ bàng




11:23' 15/8/2011
Các bài mới
Dự án thủy điện dòng chính Mêkông: Tác động khó lường   (16/8/2011)
Bản tin số 4 năm 2011   (5/9/2011)
Thông cáo báo chí hội thảo "Chia sẻ kinh nghiệm quản lý tổng hợp tài nguyên nước từ lưu vực sông Mississpi"   (14/9/2011)
Thư đề nghị của VRN về Dự án thủy điện Đồng Nai 6 và 6A   (15/9/2011)
Hoạt động đi thực tế và làm phim tại Đồng bằng sông Cửu Long của Mạng lưới Sông ngòi Việt Nam   (17/10/2011)
Sự biến mất của mùa nước nổi   (4/11/2011)
Thông cáo: Hơn 20.000 người kêu gọi chính phủ các quốc gia Mê Công hủy bỏ dự án đập Xayaburi   (1/12/2011)
Công văn của Ban chỉ đạo Tây Nam Bộ sau hội thảo ngày 25/11/2011   (15/12/2011)
Thách thức của 10 dòng sông Việt Nam   (8/2/2012)
EGAT khẳng định “Chính phủ Lào bật đèn xanh tiếp tục xây thủy điện Xayaburi”   (11/2/2012)
Các bài đã đăng
Lớp tập huấn kĩ năng viết đề xuất dự án liên quan đến BĐKH cho Mạng lưới Bảo vệ môi trường và khí hậu tại Đồng bằng sông Cửu Long   (9/8/2011)
Đối thoại "THÁCH THỨC CỦA VIỆC PHÁT TRIỂN ĐẬP DÒNG CHÍNH TRÊN SÔNG MÊ CÔNG ĐỐI VỚI SINH THÁI CỦA ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG"   (8/8/2011)
Văn phòng VRN cập nhật thông tin về vấn đề Xayaburi   (30/3/2011)
Hội thảo tham vấn lấy ý kiến của các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long về dự án thủy điện Xayburi   (18/1/2011)
Mạng lưới cộng đồng ứng phó với biến đổi khí hậu tại Đồng bằng sông Cửu Long   (28/12/2010)
Hội thảo “Chia sẻ kinh nghiệm và thành lập Mạng lưới bảo vệ môi trường và ứng phó với BĐKH tại ĐB sông Cửu Long – MEKONGNET”   (28/12/2010)
Thư Gửi Ngoại Trưởng Hillary Clinton   (5/11/2010)
THÔNG CÁO BÁO CHÍ "Công bố kết quả đánh giá Môi trường chiến lược của thủy điện trên dòng chảy chính sông Mê-Kông"   (19/10/2010)
Thông cáo báo chí "MRC đã nhận được Thông báo đầu tiên về Dự án trên dòng chính sông Mekong"   (29/9/2010)
BÁO CÁO TỔNG KẾT DỰ ÁN BIOMAS – HƯƠNG TRÀ, TT HUẾ   (29/9/2010)
                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                     
Giới thiệu    |    Sơ đồ site    |    Ấn phẩm    |    Liên hệ

TRUNG TÂM BẢO TỒN VÀ PHÁT TRIỂN TÀI NGUYÊN NƯỚC
Phòng 801, tòa nhà HACISCO, số 15 ngõ 107, Nguyễn Chí Thanh, Đống Đa, Hà Nội
*Tel: (84-4)3 7730828 *Fax: (84-4)3 7739491
Email: info@warecod.org.vn
Trang web này xem tốt nhất trên trình duyệt IE